PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
Bài 22: Chỉ báo Bollinger Bands
1. Khái niệm chỉ báo Bollinger Bands:

Dải Bollinger (Bollinger Bands) là công cụ kỹ thuật đa năng kết hợp giữa các đường trung bình động (Moving Average) và độ lệch chuẩn (Standard Deviation) và là một trong những công cụ phân tích kỹ thuật phổ biến nhất đối với nhà đầu tư. Dải Bollinger do nhà phân tích kỹ thuật John Bollinger phát minh vào thập niên 1980.

Có 3 thành phần cơ bản trong chỉ báo Bollinger Bands:

1. Đường trung bình động (Moving Average): sử dụng đường trung bình động giản đơn (SMA) mặc định 20 kỳ/phiên: SMA 20.

2. Dải băng trên (Upper Band): dải trên thường có độ lệch chuẩn là 2, được tính toán từ dữ liệu giá đóng cửa 20 kỳ/phiên, nằm trên đường trung bình SMA 20.

3. Dải băng dưới (Lower Band): dải dưới thường có độ lệch chuẩn là 2 và nằm dưới đường trung bình SMA 20.


Cơ sở của dải Bollinger là giá cả có xu hướng dao động trong một khoảng giới hạn nhất định. Do đó John Bollinger đã phát triển ra một dải gồm 3 đường trên cùng đồ thị giá của cổ phiếu: Đường trung bình động giản đơn nằm ở chính giữa và hai dải giới hạn trên và dưới với độ lệch chuẩn là 2 so với đường trung bình động giản đơn. Vì độ lệch tiêu chuẩn là thước đo độ dao động, nên các dải cũng tự điều chỉnh: mở rộng trong các thị trường dao động mạnh và thu hẹp trong các thị trường ổn định hơn.

2. Những đặc tính của dải Bollinger:
  • Giá nhìn chung có xu hướng dao động bên trong các dải.
  • Khi các dải thu hẹp lại, có khả năng sẽ xảy ra sự thay đổi giá mạnh .
  • Khi giá chuyển động ra ngoài và bám theo biên các dải hàm ý rằng xu thế hiện tại có thể tiếp tục.
  • Các đỉnh và đáy được hình thành bên ngoài các dải được theo sau bởi các đỉnh và đáy bên trong dải chính là các tín hiệu đảo chiều của xu thế.
  • Một chuyển động của giá bắt nguồn từ một dải thì sẽ có xu hướng đi tới dải kia.

3. Cách tính toán:

Về cách tính toán và vẽ đồ thị, dải băng Bollinger sử dụng độ lệch chuẩn và được vẽ bởi hai đường đồ thị trên cùng đồ thị giá của công cụ tài chính: một đường gọi là dải băng trên (upper band) và một đường gọi là dải băng dưới (lower band):

Dải băng trên được vẽ bởi giá công cụ tài chính cộng với độ lệch chuẩn.

Dải băng dưới được vẽ bởi giá công cụ tài chính trừ đi độ lệch chuẩn.

Cách tính:

Dải ở giữa là trung bình trượt giản đơn. Trong công thức dưới đây, “n” là số thời kì của đường trung bình động (ví dụ: 20 ngày).


Dải trên được tính tương tự như dải giữa, nhưng được dịch chuyển lên trên một số lần độ lệch chuẩn (ví dụ:hai lần độ lệch tiêu chuẩn). Trong công thức dưới đây, “D” là số lần độ lệch tiêu chuẩn.

Dải dưới là trung bình động được dịch chuyển xuống dưới một số lần độ lệch chuẩn (ví dụ: “D”).

Bollinger gợi ý sử dụng tham số 20 cho đường trung bình động (dải giữa) và sử dụng 2 lần độ lệch chuẩn (dải trên và dải dưới). Ông cũng thấy rằng trung bình động với tham số ít hơn 10 sẽ không hoạt động hiệu quả.

3. Ý nghĩa:

Khi sức tăng của giá quá mạnh, cầu lớn hơn cung nhiều, giá công cụ tài chính sẽ vượt quá băng trên (upper band). Nếu giá công cụ tài chính liên tục nằm trên dải băng trên thì điều này có nghĩa là sức tăng giá của cổ phiếu vẫn rất mạnh và được khẳng định chắc chắn.

Khi sức giảm của giá quá mạnh, cung lớn hơn cầu nhiều, giá công cụ tài chính sẽ đi thấp hơn băng dưới (lower band). Nếu giá công cụ tài chính liên tục nằm dưới dải băng dưới thì điều này có nghĩa là sức giảm giá của công cụ tài chính vẫn rất mạnh và được khẳng định chắc chắn.

Nếu giá công cụ tài chính vượt ra ngoài dải băng bollinger rồi trở lại vào trong dải băng ngay sau đó thì đây là tín hiệu cảnh báo về sự suy giảm sức mạnh của tăng hoặc giảm giá khi sự tăng hoặc giảm giá đã đạt đến sự căng thẳng quá mức. Điều này giống như sự bùng phát cuối cùng rồi lịm dần của sự sống vào thời điểm hấp hối.

4. Các tín hiệu mua bán:

Dựa vào giá vượt ra ngoài dải bollinger: khi giá công cụ tài chính vượt ra ngoài dải Bollinger và tiếp tục nằm ở ngoài dải thì xu thế tăng hoặc giảm giá hiện tại sẽ tiếp tục:

- Nếu giá nằm quá dải trên (upper band) và kéo dài liên tục thì tín hiệu này khẳng định xu thế tăng sẽ tiếp tục tăng mạnh. Đồng thời khả năng đảo chiều cũng dễ xảy ra và thường cho tín hiệu bán.


- Nếu giá nằm dưới dải dưới (lower band) và kéo dài liên tục thì tín hiệu này khẳng định xu thế giảm sẽ tiếp tục giảm mạnh. Đồng thời khả năng đảo chiều cũng dễ xảy ra và thường cho tín hiệu mua.


Dựa vào giá vượt ra ngoài dải bollinger rồi quay trở lại nằm trong dải:

- Nếu giá công cụ tài chính vượt quá dải trên (upper band) rồi sau đó thiết lập một đỉnh giá khác nằm trong dải Bollinger thì tín hiệu này cảnh báo sự chấm dứt xu thế tăng giá hiện tại và chuyển sang xu thế giảm hoặc dập dềnh. Tín hiệu này sẽ là cảnh báo đảo chiều sang giảm (cho tín hiệu bán) và được khẳng định chắc chắn hơn nếu sau đó giá công cụ tài chính rớt xuống dưới đường trung bình động tương ứng của dải băng Bollinger.


- Nếu giá công cụ tài chính xuống dưới dải dưới (lower band) rồi sau đó thiết lập một đáy giá khác nằm trong dải Bollinger thì tín hiệu này cảnh báo sự chấm dứt xu thế giảm giá hiện tại và chuyển sang xu thế tăng hoặc dập dềnh. Tín hiệu này sẽ là cảnh báo đảo chiều sang tăng (cho tín hiệu mua) và được khẳng định chắc chắn hơn nếu sau đó giá công cụ tài chính vượt lên trên đường trung bình động tương ứng của dải băng Bollinger.


Tuy nhiên để có kết luận chính xác hơn về các dấu hiệu đảo chiều này, cần phải có sự kết hợp với các phương pháp phân tích khác.

(Bài viết chỉ mang tính tham khảo)